Invisible Cut – Xu Hướng Mới Trong Video Editing

Từ UI design cho đến cinematography (nhiếp ảnh điện ảnh), người ta đều đề cao trải nghiệm hình ảnh mượt mà không ngắt quãng.

Theo lẽ tự nhiên, tính liên tục sẽ đề cao tính thẩm mỹ, liền mạch và tự nhiên. Vì thế ta không cần lúc nào cũng phải điều chỉnh sao cho phù hợp với ngữ cảnh. Mặt khác, tính liên tục còn giúp ta hiểu được mối liên hệ giữa các yếu tố qua việc liên kết giữa không gian và thời gian.

Trong cinematography, tính tiên tục liên quan đến một nguyên tắc được đề ra ở đầu những năm 1920 tại Mỹ có tên là Continuity Editing. Nguyên tắc đó hiện nay vẫn được nhiều là làm phim có tiếng tuân theo với mục đích duy trì tính nhất quán giữa không gian và thời gian trong khi vẫn edit theo nhiều góc độ khác nhau. Cho nên nguyên tắc này mạnh về gắn kết tinh thần hơn là nhằm vào bản chất liên tục của hình ảnh (visual continuity)

Visual continuity được hiểu như thế nào ở lĩnh vực làm phim?

Trong một bộ cảnh phim đơn (cùng thời gian và không gian), visual continuity có nghĩa là người xem sẽ không nhìn thấy sự gián đoạn nào ở đoạn phim họ đang xem. Bất kỳ kỹ thuật cut nào cũng có thể không được sử dụng. Nó phải hoàn toàn là một sequence-shot (shot quay một lần)

Sequence-shot là ví dụ hoàn hảo nhất về visual continuity cho một cảnh phim đơn và hiện đang là xu hướng mới. Kỹ thuật này đã được trình làng trong các bộ phim từng nhận các giải thưởng lớn như Birdman, La La Land và the Revenant.

Tuy nhiên, sequence-shot lại bị giới hạn bởi các cảnh hành động diễn ra trong cùng một không gian và đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật nhất định.

Tính liên tục giữa các cảnh khác nhau là gì? Trong giới làm phim, visual continuity sẽ xác định mối liên hệ có thể được tạo ra giữa các shot. Nó sẽ ảnh hưởng đến cách mà các shot liên kết với nhau và chủ yếu bằng việc chuyển tiếp hình ảnh (visual transition)

Visual Continuity — ‘Watchtower of Turkey’ (Dalessandri, 2014)

Transitions

Trong videography, transition (chuyển cảnh) thể hiện các shot liên tiếp được kết nối với nhau ra sao. Kỹ thuật transition cơ bản và phổ biến nhất là cut, giúp liên kết và chuyển cảnh giữa hai shot.

Người dựng phim có thể chọn bất kỳ phương pháp transition nào tùy theo mục đích sử dụng nhằm làm nổi bật mối liên hệ giữa hai shot hoặc hai cảnh. Chẳng hạn, fades to black dùng để chi tách mạch phim, dissolve cho thấy thời gian đang trôi qua hay ngủ mơ, vv. Transition là một công cụ giúp người dựng phim (editor) linh hoạt hơn trong cách kể chuyện (storytelling) và truyền đạt cảm xúc.

dissolve transition trong cảnh mở màn — ‘Apocalypse Now’ (1979)

Việc chuyển cảnh được sử dụng hầu hết trong phim ảnh đều là hình ảnh trực quan chung chung, do đó nó ít khi lấy nội dung từ các shot quay.

Ngược lại, pronounced transition được xem là yếu tố phá cách, như thủ thuật unmistakable wipe transition dùng trong phim Star Wars. Tuy nhiên, phần lớn editor đều hạn chế sử dụng thủ thuật này.

clock wipe transition — ‘Star Wars Episode IV: A New Hope’ (1977

Ý nghĩa của các transitions

Ngoài việc duy trì tính liên tục, transition còn tạo ra liên kết.

Việc thực hiện một thủ thuật cut đơn giản thường sẽ thông qua khoảng thời gian: chúng ta sẽ ghi nhớ cảnh đầu tiên xem trong trí nhớ ngắn hạn và sau đó là cảnh tiếp theo, qua đó hình thành liên kết tinh thần.

Chúng ta thường quen thuộc với những vật trực quan tương tự nhau về kích cỡ, hình dáng, màu sắc, cấu trúc, vv. Vì thế, kết hợp giữa hai shot thể hiện hai hình ảnh trực quan tương đồng nhau sẽ mang lại tác động tích cực hơn so với một. Sự hợp nhất về mặt hình ảnh sẽ tạo ra tương tác.

Nói đến match cut trong làm phim, match cut là thủ thuật cut từ shot này sang shot khác khi cả hai shot đều có chi tiết tương đồng nhau qua hành động hoặc vật thể. Theo nghĩa rộng hơn, nó liên quan đến mối liên kết tương quan giữa hình ảnh, audio và phép ẩn dụ.

Chi tiết hơn, visual match cut là thủ thuật match cut khi hai shot đều có các chi tiết hay vật thể tương đồng nhau nằm cùng một vị trí trong khung hình. Việc này càng thu hút hơn khi các shot không nằm cùng một scene vì nó sẽ tạo ra mối liên kết vô hình.

Một ví dụ nổi tiếng nhất cho rường hợp này là cảnh quay thảy đoạn xương trong “2001: A Space Odyssey”. Stanley Kubrick đã ẩn dụ thể hiện toàn bộ lịch sử tiến bộ khoa học trong một cảnh cut tinh tế.

match cut — ‘2001: A Space Odyssey’ (1968)

Các series phim hiện đại của Pixar hay các đạo diễn như Edgar Wright và Wes Anderson đều đưa visual match cut vào tác phẩm của mình với cùng một mục đích là tạo ra mốt liên kết giữa bối cảnh hay làm nổi bật các yếu tố đối nghịch nhau về ngữ cảnh.

match cut trong ’Stranger Things’ (2016)

Visual match cut cũng mang yếu tố thẩm mỹ trong đó khi gây ra ấn tượng mạnh với người xem.

match cut (đồ ăn với nước thải) phản ánh cảm giác kinh tởm
mà nhân vật chính đang chịu trong  ‘Game of Thrones’ (2017)

Thế mạnh của invisible cut

Tính liên tục có thể đi xa hơn thông qua qua transition, thậm chí khi biến mất.

Hợp nhất hoàn hảo giữa hai shot sẽ được thực hiện bằng invisible cut. Theo nguyên tắc, mục đích của invisible cut là nhằm ẩn đi transition để người xem không nhìn thấy.

Đạo diễn Hitchcock lần đầu tiên đã áp dụng thủ thuật này trong bộ phim Rope. Máy quay phim của ông không thể ghi hình đoạn video hơn 10 phút do đó ông đã sử dụng thủ thuật để ẩn đi các đoạn cut trong các cảnh quay dài.

invisible cut sử dụng trong ‘Rope’ (1948)

Nếu được áp dụng tinh tế và đúng cách, invisible cut sẽ gây ấn tượng và khiến người xem cảm tưởng như toàn bộ cảnh quay đều là sequence-shot.

Alejandro Iñárritu đã đưa invisible cut vào phim “Birdman” để người xem có cảm giác toàn bộ phim được ghi hình bằng một cú máy duy nhất.

invisible cut trong ‘Birdman’ (2014

Ở ví dụ trên, invisible cut diễn ra khi máy quay hướng xuống sản nhà và sau đó được ẩn đi bằng whip pan, chuyển động của máy quay quá nhanh đến mức nó làm mờ hình ảnh thành cách vệt không rõ ràng. Chuyển động của máy quay giữa hai cảnh cũng phải tương tự nhau để hình ảnh chuyển động được mượt mà và không gây gián đoạn.

Liên tục chuyển đổi ra vào giữa môi trường sáng tối như trong bộ phim “Rope” của Hitchcock hay sử dụng một vật nào đó di chuyển ngang khung hình là phương pháp thông thường và phổ biến nhất của invisible cut.

invisible cut sử dụng hình ảnh chiếc xe đang di chuyển
trong  ‘Shaun of the Dead’ (2004).

Invisible cut cũng được sử dụng tùy theo mục đích. Trong nhiều trường hợp, người xem thấy được transition nhưng không chắc nó diễn ra ở đâu. Hay transition diễn ra mượt mà nhưng người xem vẫn nhận ra có yếu tố bất thường trong cảnh quay. Nó được sử dụng nhằm làm dịu người xem có chủ đích.

invisible cut sử dụng a whip pan (máy quay di chuyển nhanh)
trong Shaun of the Dead’ (2004)

Match cut và invisible cut không thể chèn vào trong quá trình edit. Bạn có thể giả lập transition này khi hậu kỳ nhưng chất lượng cho ra lại không cân xứng. Thủ thuật này cần tận dụng những gì xuất hiện trong cảnh quay và cho người xem thấy việc ghi hình được thực hiện ra sao. Tuy yêu cầu khá cao nhưng kết quả cho ra lại đáng kinh ngạc và mang lại cảm xúc cho người xem.

Hệ thống Visual continuity

Nhiều đạo diễn và editor tiên phong đã thử mở rộng visual continuity vượt xa các transition thông thường và có những bước tiến nhất định.

Bên cạnh những mẫu thuẫn xảy ra nhưng dường như nếu transition càng khó nhìn thấy thì càng dễ thu hút sự chú ý hơn. Đầu tiên, các hình ảnh và đồ vật tương đồng nhau sẽ thu hút sự chú ý. Thứ hai, một transition mượt mà sẽ hiển thị nội dung lên đầu tiên khi mắt người sẽ không bị xao nhãng khỏi các thay đổi có thể nhìn thấy được và tiếp tục tập trung vào những gì diễn ra trong shot quay.

match dissolve trong   Stranger Things (2016)

Visual continuity từ đó sẽ liên kết chặt chẽ hơn. Khi tính liên tục đạt đến cực đại sẽ trở thành nhân tố không thể thiếu trong chỉ đạo nghệ thuật (art direction) và thúc đẩy quá trình làm phim.

Để đạt được mục tiêu này, đạo diễn và editor cần xem xét và tìm tòi các yếu tố có thể tương ứng với nhau giữa các shot quay như vật thể, hành động, các yếu tố trong cảnh quay, ánh sáng, màu sắc, vv.

Ngoài ra cũng có thể sử dụng các thủ thuật mà nhiều nhà làm phim tiên phong đang áp dụng như object obstruction, whip pans, chuyển cảnh giữa môi trường sáng tối hay thêm ánh sáng, vv.

Các thủ thuật trong quá trình hậu kì như cân chỉnh màu sắc, đặt mask cho shot quay hoặc chuyển đổi thời gian cũng giúp ích rất nhiều.

invisible cut sử dụng tiền cảnh tối
trong   ‘NORWAY Let the journey be your goal’ (Baseotto, 2016)

Dù hữu dụng trong nhiều trường hợp nhưng các thủ thuật này cũng bộc lộ yếu điểm ở các cảnh không tương đồng.

Motion (chuyển động) là yếu tố được thêm vào và kết nối các thứ lại với nhau.

Dù motion đó đến từ chính cảnh quay (vật thể hay máy quay di chuyển) hay từ khâu hậu kỳ hoặc cả hai thì tính liên tục của hành động từ shot này sang shot khác rất dễ thu hút sự chú ý.

Một tiêu chí không thể thiếu để chuyển động luôn liên tục đó là giữ đúng hướng, pivot, tốc độ và hiện trạng của chuyển động đó (tăng đốc, ổn định hay giảm tốc độ)

chuyển động liên tục giữa các shot quay ở tốc độ nhanh
trong  ‘Watchtower of Turkey’ (Dalessandri, 2014)

Một số phương pháp tiếp cận triệt để khác đề cao transition dự trên tính tương quan của hành động hơn là nội dung.

transition được thể hiện qua các hành động như xoay 180 độ hoặc zoom in/ out
trong ‘NORWAY Let the journey be your goal’ (Baseotto, 2016)

Nghệ thuật transition

Invisible transition đại diện cho visual continuity trong videography. Mỗi transition đều tạo ra động lực trực quan và chứa đựng các yếu tố nghệ thuật. Tương tự như đoạn opening title, transition có thể bức phá ra khỏi vị trí là công cụ hỗ trợ đơn thuần sang tiêu chuẩn về chỉ đạo nghệ thuật.

Khi quá trình làm phim ngày càng tiến bộ, transition vẫn và sẽ cho ra nhiều nội dung trực quan đan xen nhau. Dù không nhìn thấy, nhưng nó vẫn mang đến nhiều tác động cho chúng ta!

Nguồn medium.com

Post Author: Tu Vo