Khám phá phim hoạt hình từ thập niên 20 đến 70

Cảm giác phấn khích vào sáng thứ bảy, khi mà bạn không thể chờ đợi đến giờ bật khỏi giường ngủ và bật TV – đó là thời gian hoạt hình! Nhưng trước phim hoạt hình trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người Mỹ, nó đã được chiếu trong các rạp phim. Hãy cũng quay ngược thời gian và cùng điểm lại những bộ phim hoạt hình tuyệt vời trong ký ức tuổi thơ dữ dội của bạn nào!

Những phát minh Animation sơ khai

Mặc dù đồ chơi quang học (optiacl toys) có thể được bắt nguồn từ thế kỷ 17, nhưng nhiều sáng tạo hoạt hình đã xuất hiện sớm hơn từ thập niên 80  như:

  • Taumatrope (1826): Một đĩa quay với hình ảnh khác nhau ở mỗi bên, treo lơ lửng giữa hai dây xoắn.




  • Phenakistoscope (1832): Thiết bị này gồm 2 đĩa đặt cách nhau vài cm được kết nối trên cùng một trục. Các bức tranh vẽ người hoặc vật trên cạnh của một đĩa, trên đĩa còn lại được khoét một khe. Khi 2 chiếc đĩa được quay cùng một vận tốc, hình ảnh xuất hiện liên tục và “chuyển động” khi đi vào tầm nhìn của khe phản chiếu qua một tấm gương.




Zoetrope (1867) và Praxinoscope (1878) là một trong số các thiết bị animated-picture được phát minh bất ngờ cuối những năm 19 và đầu thế kỷ 20. Năm 1891, nhà phát minh nổi tiếng Thomas Alva Edison giới thiệu Kinetoscope, về cơ bản đó là một hộp sáng bao gồm các bức ảnh quay nhanh trên cuộn phim. Năm 1895, Cinematograph- một loại máy chiếu phim của Louis và Auguste Lumiére, đã được cấp bằng sáng chế .

Eadweard Muybridge’s Phenakistoscope

Trước khi có lời thoại: Phim câm, phim lồng nhạc (Music-Dubbed) hoặc hoặc phim chuyển thể từ manga (Live Action)

Một số đoạn phim ngắn được ghi nhận là “xuất hiện đầu tiên” trong thế giới animation:

Fantasmagorie (Émile Cohl, 1908), Little Nemo (Winsor McCay, 1911), Gertie Dinosaur (Winsor McCay, 1914), Bobby Bumps và Con Cò (Earl Hurd / Bray Studios, 1916), Krazy Kat (George Herriman, 1916) và Koko the Clown (Max Fleischer, 1917).




Fantasmagorie (Émile Cohl, 1908)




Gertie Dinosaur (Winsor McCay, 1914)

Felix the Cat, series phim hoạt hình character-driven đầu tiên, bắt đầu với phim Feline Follies (1919) và trở nên phổ biến vào 1920. Mặc dù phim mang nhiều màu sắc, nhưng Felix đã thất thế về tài chính vào những năm 1930, một phần vì thời điểm kinh tế lúc bấy giờ không tốt nhưng cũng vì các vấn đề pháp lý về quyền sở hữu. Sau đó, các bộ phim hoạt hình của Felix the Cat đã có được “tiếng nói riêng” và đã được đưa trở lại rạp chiếu phim vào giữa thập niên 1930. Các phim hoạt hình này đã được phát sóng trên truyền hình từ năm 1953.

Felix the Cat

Đưa âm thành vào phim hoạt hình

Những đoạn đối thoại xuất hiện!

Năm 1927 được xem là năm thay đổi mọi thứ trong lĩnh vực sản xuất phim khi âm thanh đồng bộ được giới thiệu trong các bộ phim với những hình ảnh “talkie” live-action đầu tiên, như phim The Jazz Singer  với sự tham gia của Al Jolson. Chính vì âm thanh đồng bộ trong các hình ảnh động là một cú hit lớn với khán giả, nên các nhà sản xuất phải tạo ra được những bộ phim có tiếng thì mới cạnh tranh được. Tại thời điểm này, thời kỳ phim câm cũng kết thúc. Âm thanh lên ngôi và phim hoạt hình anmation phát triển theo một xu hướng mới.

Nhà sản xuất Walt Disney

Trước khi công ty sản xuất phim Walt Disney ra đời, có hai animators là việc trên một loạt các dự án. Walt Disney và đối tác animator Ub Iwerks của ông đã cùng nhau tạo ra Oswald the Lucky Rabbit (1927). Disney và Iwerks ký hợp đồng phân phối Oswald với hàng Universal, nhưng bộ phim hoạt hình đầu tiên Poor Papa, bị từ chối vì chất lượng kém. Disney và Iwerks sau đó đã tạo ra Trolley Troubles và sau đó bộ phim vô cùng được yêu thích.

Trolley Troubles, sự tham gia của Oswald the Lucky Rabbit (1927)




Năm 1928, Disney muốn tăng giá các bộ phim hoạt hình về Oswald, nhưng Charles Mintz của Universal muốn giảm khoản ngân sách này. Charles vẫn chấp nhận kí hợp đồng làm phim với Disney nhưng đưa ra một yêu sách “hoặc tối đa hoặc tối thiểu” cho ông lựa chọn. Nhưng vì theo hợp đồng người sở hữu thực của loạt Oswald là Universal chứ không phải Walt Disney nên Disney và Iwerks đã chấp nhận bỏ đi. Trước khi ra đi, họ đã hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng của họ trên Oswald và sau đó bắt đầu tạo ra bộ phim hoạt hình Mickey Mouse. Tháng 5 năm 1928, Productions của Walt Disney đã sản xuất một đoạn phim ngắn không tiếng gọi là Plane Crazy, nền tảng sơ khai cho Mickey Mouse.

Bộ phim Steamboat Willie, cũng giống với  Mickey Mouse và được coi là bộ phim hoạt hình âm thanh đầu tiên của Disney, được phát hành vào năm 1928. Sau đó, phim Plane Crazy  được giới thiệu lại vào năm 1929. Công ty Disney, với quá trình đồng bộ hóa âm thanh gọi là Cinephone, đã sản xuất một số bộ phim hoạt hình âm thanh vào những năm 1930, và hầu hết trong số đó đều đề có liên quan đến chuột Mickey. Quá trình từ âm thanh đến khả năng tạo ra các animation với những màu sắc sinh động gọi là Technicolor. Nhiều bộ phim hoạt hình đầy màu sắc của Disney xuất hiện trong những năm 1930, bao gồm cả The Three Little Pigs nổi tiếng (1933).

Steamboat Willie, Mickey Mouse (1928)




Những phim Animation dài của Disney

Vào những năm 1930, Walt Disney Studios cũng đã bắt đầu tạo ra hình ảnh animation dài; một số đã phát hành như:  Snow White và Seven Dwarfs vào năm 1937.

Trong thập kỷ tiếp theo, Walt Disney sản xuất Pinocchio (1940), Fantasia (1940), Dumbo (1941) và Bambi (1942).

Pinocchio (1940)

Dumbo (1941)

Bambi (1942)

Sau khi kết thúc Thế chiến II, Disney phát hành Song of the South (1946) – bộ phim kết hợp live-action với hình ảnh động.

Song of the South (1946)

Phiên bản Disney của Cinderella cổ điển xuất hiện năm 1950, theo sau là Alice in Wonderland (1951), Peter Pan (1953), Lady and the Tramp (1955) và Sleeping Beauty (1959).

Alice in Wonderland (1951)

Lady and the Tramp (1955)

Sleeping Beauty (1959).

Sự bùng nổ của Looney Melodies và Merrie Tunes

Ban đầu, hãng phim Warner Bros và  Bosko là các studio chính của bộ phim hoạt hình ngắn này, họ đã phát hành Sinkin ‘in the Bathtub (1930).

(Bosko, được tạo ra bởi Leon Schlesinger Productions, được vẽ như là một nhân vật có hình dáng loài vật nhưng hoạt động như một con người thực và có những tài lẽ giống những người hát rong.). Bosko xuất hiện trong tập 39 của Looney Tunes (còn được đánh vần là Looney Toons).




Sinkin ‘in the Bathtub (1930).

Khi những người sáng tạo ra Bosko rời công ty, Warner Bros. đã thuê animator Isadore “Friz” Freleng – người  sau này được cho là đã mang “Buggy Bunny” vào cuộc sống. Từ năm 1931 đến năm 1969, phim hoạt hình Merrie Melodies (có nhân vật Bugs và bạn bè của anh) vô cùng nổi tiếng với nhạc phim và âm thanh để quảng cáo cho phim hoạt hình tốt hơn. Cùng với Bugs Bunny, phim hoạt hình Warner Bros. trong “Golden Age of Animation” bao gồm các nhân vật của Porky Pig, Roadrunner và Wile E. Coyote, Vịt Daffy, Pepé Le Pew, Elmer Fudd, Tweety Bird và Sylvester, Yosemite Sam, Foghorn Leghorn và nhiều nhân vật khác cũng được khán giả yêu thích.

Roadrunner và Wile E. Coyote

 

Tweety Bird và Sylvester

 

Elmer Fudd

Phim hoạt hình của Walter Lantz

Walter Lantz Productions đã tạo ra một vài nhân vật nổi tiếng nhưng không nhân vật nào được ưu ái nhiều như Woody Woodpecker, trong Andy Panda’scartoon gọi là Knock Knock.

Một số nghệ sĩ từng lồng tiếng cho Woody Woodpecker, bao gồm: Mel Blanc (1940-1941, giọng cười thương hiệu: 1940-1949, dòng “Guess Who”: 1940 – 1972); Ben Hardaway (1941 – 1949); Danny Webb (1941-1942); Kent Rogers (1942-1944) và Grace Stafford – còn được gọi là Bà Walter Lantz(1950-1972, 1990).

Chilly Willy (chim cánh cụt) và Homer Chicken cũng là một trong những nhân vật hoạt hình nổi tiếng được tạo ra bởi các tác phẩm của Walter Lantz.

Pantry Panic starring Woody Woodpecker (1941)

Pantry Panic với sự tham gia của Woody Woodpecker (1941)




Inkwell Studios / Fleischer Studios / Các studio nổi tiếng

Được thành lập vào năm 1921 với tư cách là Inkwell Studios, anh em Max và Dave Fleischer đã đổi tên thành công ty Fleischer Studios trước khi giới thiệu một số tác phẩm phim được coi là bộ phim hoạt hình âm thanh đồng bộ đầu tiên vào cuối những năm 1920; Một phim hoạt hình ngắn được gọi là My Old Kentucky Home. Công ty cũng sản xuất một loạt các phim ngắn  (silent-era shorts) bao gồm Out of the Inkwell, trong đó có sáng chế của Max Fleischer được gọi là Rotoscope (một thiết bị chiếu phim qua bảng vẽ và giá vẽ). Hình ảnh chiếu phim được tìm thấy trên giấy với các bản vẽ mới trên các thước phim tiên tiến.

Trong những năm 1920, anh em nhà Fleischer đã phát triển một loạt các hoạt hình ngắn gọi là Car-Tunes, sử dụng Bouncing Ball thu hút cả khán giả cùng hát theo. Trong suốt những năm 1930 và 1940, Fleischer Studios được cho là đã đưa Betty Boop, Popeye the Sailor, Supermanand Koko the Clown tới các rạp chiếu phim lớn của nhiều nhà làm phim.

In the Shade of the Old Apple Tree: Screen Song (1929)




Những bộ phim hoạt hình xuất sắc khác từ thập niên 30 đến những năm 70

  • Alvin and the Chipmunks(Bagdasarian/Format Films, 1961)
  • Aqua Man (Filmation, 1968)
  • The Archie Show (Filmation, 1968)
  • Astro Boy(Tezuka, 1952)
  • Casper the Friendly Ghost(Reit-Oriolo/Famous Studios, 1939)
  • Deputy Dawg(Terrytoons, 1962)
  • Droopy (Metro-Goldwyn-Mayer, 1943)
  • Fat Albert(Cosby/Filmation, 1972)
  • The Fantastic Four(Hanna-Barbera, 1967)
  • The Flintstones (Hanna-Barbera, 1960)
  • Flip the Frog (Celebrity Pictures/Metro Goldwyn-Mayer, 1930)
  • George of the Jungle (Ward/Scott, 1967)
  • Gulliver’s Travels(Fleischer Studios/Paramount, 1939)
  • Heckle and Jeckle(Terrytoons/20th Century Fox, 1946)
  • Huckleberry Hound(Hanna-Barbera, 1957)
  • The Jetsons(Hanna-Barbera, 1962)
  • Magilla Gorilla(Hanna-Barbera, 1963)
  • Mighty Mouse(Terrytoons,1942)
  • MotorMouse & AutoCat(Hanna-Barbera, 1970)
  • Magoo(United Productions of America, 1949)
  • Quick Draw McGraw and Baba Looey(Hanna-Barbera, 1959)
  • The Pink Panther(DFE Films, 1964)
  • Rocky & Bullwinkle and Friends (Ward/Anderson/Scott, 1959)
  • Roger Ramjet(Pantomime Pictures, 1965)
  • Ruff & Reddy(Hanna-Barbera, 1957)
  • Snagglepuss(Hanna-Barbera, 1959)
  • Scooby Doo (Hanna-Barbera, 1969)
  • Space Ghost(Hanna-Barbera, 1966)
  • Speed Racer(Trans-Lux, 1967)
  • Super President (DePatie-Freleng, 1967)
  • Tennessee Tuxedo & Chumley(Total Television/Leonardo Television Productions, 1963)
  • Tom and Jerry(Hanna-Barbera/MGM, 1940)
  • Top Cat(Hanna-Barbera, 1961)
  • Underdog (Biggers/Stover/Harris/Covington, 1964)
  • Yogi Bear and Boo Boo(Hanna-Barbera, 1958)

Chuyên mục yêu thích “Sáng thứ bảy” (live action)

  • The Banana Splits (Hanna-Barbera, 1968)
  • The Bugaloos (Krofft, 1970)
  • Gumby and Pokey(Clokey Productions, 1953)
  • R. PufnStuf(Krofft, 1969)
  • Here Come the Double Deckers(Booth/Jones, 1971)
  • Land of the Lost(Krofft, 1974)
  • Lidsville(Krofft, 1971)
  • Sigmund and the Sea Monsters(Krofft, 1973)

Heckle and Jeckle: The Intruders (1947)




Post Author: Tu Vo